[Truyện ngắn] Một mình ở Ý – Tập 1 – Venice

Chỉ còn hơn mười phút nữa, chuyến tàu sẽ đến điểm dừng cuối cùng, nhà ga Venice Santa Lucia. Trong suốt chặng đường gần bốn tiếng đồng hồ từ Rome, tôi dán mắt vào cửa sổ, ngắm nhìn khung cảnh hai bên. Từ vùng ngoại ô của Rome với những toà nhà chung cư cao tầng xập xệ, những triền núi phủ sương mù mơ màng của vùng Tuscany, cho đến những ngôi làng nhỏ với những dãy nhà ngói đỏ theo phong cách Địa Trung Hải, những hình ảnh của nước Ý ngoài kia lần lượt hiện ra rồi vụt đi trong chớp mắt. Con tàu cao tốc như một rạp chiếu phim còn tôi chỉ là một người khách nhất thời, hết chương trình tôi sẽ phải rời khỏi nơi này, sẽ phải cố gắng kéo chiếc xe đạp điện cũ kỹ ra khỏi sự kìm kẹp của những đàn anh đàn chị Vespa và Piaggio nặng ký hơn, phải ỳ ạch gần một tiếng đồng hồ để đi từ trung tâm Hà Nội về đến căn phòng nhỏ mà tôi thuê trên con đường Tố Hữu sát với Hà Đông.

Nhưng không, tôi đang thực sự ở trên đất Ý. Hai bên tôi, biển dần dần hiện ra, màu nước được nhuộm ánh vàng bởi những tia sáng mặt trời cuối ngày. Phía xa kia là thành phố Venice, đâu đó tôi đã thấy những toà nhà được tô điểm bởi những mái vòm tinh tế. Không biết vì đường ray nhấp nhô hay mặt biển bồng bềnh, mà tôi cảm giác như cả thành phố Venice đang nhẹ nhàng đung đưa trên mặt nước. Năm vừa rồi, tôi đã dành nhiều thời gian để tìm hiểu về lịch sử và kiến trúc pha trộn những nét Đông Tây ở nơi đây. Những nguồn kiến thức bằng tiếng Việt khan hiếm, tôi phải mày mò tìm kiếm thông tin bằng tiếng Anh và tiếng Ý, vừa nhờ vả người quen ở nước ngoài gửi tài liệu về, vừa phải bỏ tiền túi thuê người dịch giúp. Thế rồi bản thiết kế một resort ven biển với kiến trúc mang hơi hướng Venice của tôi đã đạt giải nhất một cuộc thi văn hóa và nghệ thuật và tôi được tặng một chiếc vé khứ hồi sang Ý cộng một khoản chi tiêu nhỏ cho chuyến đi được tài trợ bởi chính hãng Piaggio.

Blog_Veniceă

Buồn cười thật, vận may đã mỉm cười với tôi, một đứa sinh viên mới chân ướt chân ráo ra trường và đi làm chưa đầy một năm. Tôi cứ tưởng rằng, việc đi tận Châu Âu du lịch là một chuyện không tưởng, thậm chí, khái niệm du lịch thôi cũng vẫn khá mơ hồ đối với tôi. Tất nhiên, trên những trang mạng xã hội, tôi đã từng xem những bức ảnh đi chơi, ảnh cưới của những đôi uyên ương chụp ở Châu Âu, nhưng đó là hội con nhà giàu, tôi chẳng có điểm nào giống họ cả. Chuyến đi xa nhất của tôi là một lần cùng gia đình vào Đà Nẵng ăn cưới một người anh họ. Ở miền Bắc, đến Sapa tôi còn chưa đi bao giờ. “Nghỉ một hôm là mất khách ngay, mình không mở hàng họ mua chỗ khác rồi không quay lại là chết toi,” mẹ tôi hay bảo mỗi khi mệt người nhưng vẫn cố gắng gượng dậy để mở sạp bán giò chả ở chợ Sơn Tây. Từ bé tôi đã chăm chỉ phụ giúp bố mẹ, bàn tay nhanh thoăn thoắt không chỉ thạo rán chả mà tôi còn biết làm bánh giò, bánh rán, bánh tẻ. Lớn hơn chút, tôi đam mê vẽ vời và thi đậu vào Đại học Mỹ thuật Công nghiệp. Bàn tay khéo léo của tôi như chẳng bao giờ mỏi kể cả phải thức khuya để hoàn thành những bài thiết kế.

Dù ngại rằng chưa lần nào đi đâu xa một mình, thế nhưng tôi vẫn liều mình đi Ý hai tuần. “Con bé này, mày không đi, thì để vé cho tao đi,” bà chị gái lắm mồm lắm miệng, chẳng bao giờ giúp được gì mà chỉ trực ăn tranh phần của tôi từng trêu như vậy. Tôi có muốn cũng không thể nhượng lại vé cho bà chị, nhưng không đi trong vòng sáu tháng, tấm vé sẽ hết hạn. Người ta cứ khuyên các bạn trẻ “vác ba lô lên và đi” như thể đó là một việc dễ dàng lắm. Giá mà những người viết ra những câu tương tự như vậy hiểu được chặng bay từ Hà Nội sang Frankfurt mệt thế nào. Tôi không ngủ được và bị say máy bay, chóng mặt và đau đầu kinh khủng. Và chắc họ cũng chưa từng qua sân bay Frankfurt phức tạp như một khu mê cung khổng lồ, tôi chạy thục mạng mới không bị lỡ chặng bay nối tiếp sang Rome.

Ga tàu nằm sát bên kênh đào chính Grand Canal tấp nập với những chiếc thuyền gỗ gondola đưa du khách tham quan, những chuyến phà lớn chở hành khách theo lịch cố định như những tuyến xe buýt công cộng và những tàu thuyền lớn nhỏ của người dân chuyên chở các loại hàng hoá. Dọc đường đi bộ men theo những kênh đào lớn nhỏ trên đường về nhà nghỉ, tôi thấy những du khách trầm trồ đứng lại chụp ảnh với những cây cầu duyên dáng và những dãy nhà đầy sắc màu. Những quán ăn đều bày biện những dãy bàn xinh xắn ngay sát kênh đào để du khách vừa có thể nhâm nhi một ly rượu vang, vừa có thể ngắm nhìn khung cảnh Venice về đêm. Tôi cảm thấy vừa lẻ loi, vừa ngại ngùng khi phải một mình khiêng chiếc va-li nặng nề qua những cây cầu, hai bánh xe cũ kỹ kêu lọc cọc khi bị kéo trên nền đường lát đá không bằng phẳng. Có lẽ nếu không có tôi, Venice sẽ lãng mạn hơn một chút, bình yên hơn một chút. Tôi tự an ủi bản thân rằng, với cái áo phao màu ghi và chiếc quần bò hơi phai màu của mình, chắc sẽ không có ai nhớ được diện mạo nhạt nhoà của tôi.

Tôi đặt một căn phòng nhỏ tại một tu viện đã được sửa sang lại thành một nhà nghỉ phổ thông để phục vụ cho lượng khách du lịch đến Venice ngày càng gia tăng. Chị nhân viên lễ tân đã trạc tuổi niềm nở dẫn tôi xem phòng của mình. Căn phòng nhỏ nhưng ngăn nắp và sáng sủa. Trên đầu giường treo một hình chữ thập được tạc bằng gỗ, biểu tượng của Thiên Chúa Giáo. “Quý khách vui lòng tôn trọng và không dịch chuyển những hiện vật trang trí,” tôi đọc được từ nội quy bằng tiếng Anh gắn trên tường. Dù đã ăn bữa trưa muộn trên máy bay, nhưng đến tối, cái bụng cồn cào thúc giục tôi ra khỏi phòng. Đi theo sự chỉ dẫn của chị nhân viên lễ tân, tôi nhanh chóng tìm được một quán ăn phục vụ những món cicchetti đặc trưng của Venice, một món khai vị với thịt nguội và hải sản được đặt trên những lát bánh mỳ. “Quán này du khách ít biết đến, nhưng người địa phương lại rất thích tới đây vào ngày cuối tuần,” chị ấy giải thích với tôi.

Dù đã khá muộn và quán nằm bên trong một con hẻm, nhưng vẫn đông người đang ăn uống, nói cười.
-“Bàn cho mấy người vậy?” ông bồi bàn khá lớn tuổi hỏi tôi.
-“Một người ạ.” Tôi trả lời sau khi ú ớ rằng tôi không biết nói tiếng Ý.
-“Một người thôi á – bạn của cô đâu vậy?,” ông ta nhướn lông mày, tỏ vẻ ngạc nhiên, khiến tôi bối rối trả lời rằng tôi đi du lịch một mình.
-“Đi du lịch một mình để làm gì cơ chứ,” ông ta cau mày rồi chỉ cho tôi một chỗ còn trống. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng, những người xung quanh đều đi theo nhóm cả. Có những bạn trẻ ngồi túm tụm với nhau, cứ một lúc tất cả lại phá lên cười. Ở phía góc bên kia, một nhóm những ông bà đã đến tuổi nghỉ hưu cũng xôn xao bàn tán một vấn đề gì đó. Có cặp uyên ương nắm tay, nhìn nhau say đắm trong sự im lặng, có đôi thì thào kể cho nhau nghe những câu chuyện nào đó.

Ăn xong, tôi nhanh chóng về phòng. Tối hôm đó, nằm trên giường, tôi nghĩ về cái ngày xuống Hà Nội để nhập học đại học. Trước đó, tôi đã xuống Hà Nội nhiều lần, nhưng chưa bao giờ phải đi một mình. Có lần thi đại học phải ở lại hai ngày, tôi may mắn vì có thể ở lại nhà một bác họ hàng xa. Chiếc va-li lạch cạch theo chân tôi sang Châu Âu lúc đó phải để chèn ở trước bụng con xe Dream, cứ lúc lại lọc xọc va vào cằm bố tôi. Còn tôi ngồi đằng sau không những đeo ba-lô mà hai vai khoác thêm hai cái túi làm bằng chất liệu giống như bao tải gạo, nào là những nồi xong, bát đũa và một cái chăn bông. Một mình ở căn phòng trọ hôm đó, tôi vừa mếu máo, vừa loay hoay đun nước để nấu một gói mỳ tôm. Xung quanh tôi, tiếng xe cộ đi qua đi lại, tiếng nhạc xập xình phát ra từ quán cà phê nào, tiếng hàng rong mời chào xôi lạc bánh khúc, tiếng người cười nói xôn xao vọng vào bên trong cửa sổ, nhưng tôi không hề quen biết ai. Phải chăng có những lúc hiện tại như chạm vào quá khứ, ta rõ ràng ở vào một hoàn cảnh mới lạ, nhưng sao cảm thấy mình đã từng đi qua nơi này, đã từng sống chính những giây phút đang trôi qua. Lạ thật đấy! Tiếng chuông nhà thờ đâu đó ngân nga, à, đúng rồi, tôi đang ở Ý.