Kết hôn để làm gì? – Tập 2, Lịch sử của hôn nhân

Trong bài này, mình giới thiệu với các bạn một nghiên cứu khoa học nổi tiếng về lịch sử của hôn nhân của giáo sư Stephanie Coontz. Cuốn sách này có tên tiếng Anh là “Marriage, A History: From Obedience to Intimacy or How Love Conquered Marriage”, dịch nôm na sang tiếng Việt là “Lịch sử của hôn nhân: Từ sự phục tùng đến sự mật thiết hay tình yêu đã chinh phục hôn nhân như thế nào.” Cuốn sách có tận 17 chương và 315 trang, nên mình chỉ xin tóm tắt lại một số khám phá thú vị.

1) Liệu chúng ta có thể sống mà không cần tới hôn nhân?

Các nhà nhân chủng học biết đến một dân tộc duy nhất không có hôn nhân. Đó chính là dân tộc Na, một dân tộc thiểu số khoảng ba mươi nghìn người, sống ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Trong xã hội của người Na, mối quan hệ giữa anh chị em ruột thịt là mối quan hệ quan trọng nhất và bền bỉ nhất. Các anh chị em sẽ cùng nhau nuôi nấng những đứa con của những người phụ nữ trong nhà, nhưng mà giữa họ tuyệt đối không có quan hệ tình cảm nào hết. Vậy những em bé người Na từ đâu mà có? Thường thì qua những cuộc gặp đúng theo cách gọi bây giờ của giới trẻ là “tình một đêm.” Nó không có gì ràng buộc cả vì với họ, anh chị em trong một nhà mới là quan trọng nhất. Theo các nhà nghiên cứu thì sự tồn tại của xã hội người Na chứng tỏ xã hội có thể chăm lo cho sự phát triển của trẻ nhỏ mà không cần đến hôn nhân.

2) Trong chiều dài lịch sử, mục đích gần như là phổ biến nhất hay quan trọng nhất của hôn nhân là… tạo mối liên kết với thông gia.

Vì sao lại như vậy? Bởi vì hôn nhân biến những người xa lạ thành những người ruột thịt, và biến những kẻ thù thành những người bạn. Trong những xã hội có nền kinh tế đơn giản dựa vào săn bắt, hái lượm hay sản xuất thô sơ, mỗi cá nhân phải dựa vào cộng đồng mới có thể duy trì được cuộc sống lâu dài. Người ta thường sống theo nhóm vài gia đình, di chuyển từ nơi này sang nơi khác để tìm nguồn thức ăn. Để đảm bảo sự sinh tồn và sự di chuyển an toàn, người ta cần có mối quan hệ tốt với những nhóm người khác, chẳng hạn như chia sẻ lương thực trong thời kỳ khó khăn hay cùng nhau khai thác một tài nguyên gì đó. Sự liên kết giữa các gia đình và giữa những nhóm người là rất quan trọng, và hôn nhân giúp củng cố những liên kết đó. Chẳng hạn như nhóm của ta muốn đến bắt cá ven đoạn sông mà nhóm khác nắm giữ thì phải có mối liên hệ nào nó với nhóm đó. Gả con gái cho họ và lấy con gái của họ là một cách.

Một số nghiên cứu được trích dẫn trong sách cho thấy những nơi nào điều kiện tự nhiên khắc nghiệt thì gia đình và bộ tộc sẽ kiểm soát hôn nhân chặt chẽ hơn. Những bộ tộc thổ dân ở Úc thường có phong tục chọn vợ, chọn chồng cho trẻ con từ khi chúng còn bé và những việc này do những bô lão quyết định. Việc này đảm bảo nhóm sẽ duy trì mối quan hệ có đi có lại với những nhóm nhác. Ngược lại, những nơi nào điều kiện sống tốt hơn thì cha mẹ sẽ thoải mái hơn và con cái có thể chủ động trong việc chọn đối phương. Chẳng hạn các bộ lạc người da đỏ ở Bắc Mỹ ít can thiệp đến hôn nhân của người trong bộ tộc vì môi trường sống ở đó khá thuận lợi và nguồn thức ăn phong phú.

Trong những xã hội tiên tiến hơn và kể cả là ngày nay, hôn nhân vẫn là một hình thức giúp cho những gia đình quyền lực tạo những liên minh kinh tế và chính trị. Các hoàng gia ở Châu Âu hay có phong tục gả con cái cho nhau, và con cháu của họ vì vậy mà cùng huyết thống. Trong giai đoạn thế chiến thứ nhất, hoàng đế Wilhelm II của Đức, vua George V của Anh và Nga hoàng Nicholas II đều là anh em họ của nhau, nhưng rất tiếc là việc này không thể cản trở sự xảy ra của chiến tranh (*). Cách nhìn này cũng giải thích tại sao các ông lớn hay muốn gả con gái cho những cánh tay trái, tay phải của mình. Đây là cách vừa để tăng lòng trung thành, vừa để khử mối đe doạ từ cấp dưới.

3) Trong thời kỳ phong kiến thì hôn nhân ở những giai cấp phổ thông phục vụ mục đích kinh tế là chủ yếu.

Ở châu Âu, mô hình sản xuất phổ biến lúc này là những nông trại trồng lúa mì, nuôi gia súc và tự làm ra một số nhu yếu phẩm và đồ dùng trong gia đình. Để duy trì một trang trại về cơ bản cần có một lao động nam làm những việc nặng nhọc và một lao động nữ làm những việc nội trợ và chăn nuôi gia cầm. Ngoài ra thì các hộ gia đình sẽ hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành một số công việc lớn trong làng hay chia sẻ công việc vào mùa gặt hái.

Cách thức tổ chức sản xuất này có ảnh hưởng khá lớn tới việc chọn lựa đối phương, chẳng hạn những người mạnh khoẻ, làm việc hăng hái sẽ được ưu tiên hơn, hay người ta sẽ thích những người có ruộng đất nằm liền kề với mình. Thường hàng xóm láng giềng và những người có tuổi tác trong làng cũng rất quan tâm đến chuyện hôn nhân của những người trẻ tuổi để đảm bảo rằng chàng rể hay nàng dâu có thể gánh vác được công việc của làng. Một phong tục phổ biến ở châu Âu vào thời kỳ phong kiến cho phép các địa chủ chọn vợ và chồng cho những người nông nô dưới sự quản lý của họ.

Ở thành thị thì các cặp vợ chồng cũng sẽ chung tay buôn bán hay sản xuất thủ công. Nếu người chồng là thợ làm giày thì người vợ sẽ nhận những việc thêu hay may vá; người chồng làm thợ may thì người vợ sẽ dệt vải. Gia đình và những người có địa vị trong các hội nghề sẽ làm công việc mai mối cho những người thợ trẻ để đảm bảo các kỹ năng của họ phù hợp với nhau và hai người có thể mở một cơ sở kinh doanh nhỏ.

4) Vài trò của hôn nhân chứng kiến sự thay đổi rõ rệt từ khoảng thế kỷ thứ 18 ở Châu Âu với tình yêu trở thành yếu tố quyết định.  

Từ thế kỷ thứ 18, hôn nhân không còn chỉ phục vụ mục đích tạo mối quan hệ thông gia hay củng cố đời sống kinh tế, mà mọi người dần dần đạt được sự tự do trong việc chọn lựa bạn đời và tình yêu trở thành yêu tố quan trọng hơn cả. Sự thay đổi này tương đương với một cuộc cách mạng vì từ trước tới giờ, tình yêu chưa bao giờ là lý do để người ta kết hôn hay là mục đích của hôn nhân. Nếu hai người có tình cảm với nhau sau khi kết hôn thì đấy là một điều tốt, nhưng người ta thường không trông đợi vào điều này và sống chung vì trách nhiệm đối với nhau và đối với cộng đồng.

Có hai yếu tố chính giải thích cho sự lên ngôi của tình yêu trong hôn nhân. Thứ nhất, trong quá trình đô thị hoá và công nghiệp hóa, cá nhân không còn bị bó buộc bởi gia đình, hàng xóm và cộng đồng như trước nữa. Những chàng trai và cô gái trẻ có thể lên thành thị và tìm cho mình những công việc trả lương hàng tháng mà không cần đến sự giúp đỡ của bố mẹ. Khi những người trẻ độc lập hơn về mặt kinh tế hay di rời khỏi quê hương thì việc lập gia đình dần dần trở thành chuyện riêng tư của từng cá nhân. Việc kết hôn không còn là việc mà cả làng cần phải can thiệp vào.

Yếu tố thứ hai là những thay đổi về mặt chính trị và triết học trong thời kỳ Khai sáng (Enlightenment) ở Châu Âu. Những triết gia trong giai đoạn này phản đối lại chủ nghĩa chuyên chế và đòi hỏi sự tôn trọng đối với quyền cá nhân. Họ đề cao sự bình đẳng nam nữ, hạnh phúc cá nhân, và mối quan hệ gia đình dựa trên lý trí và sự công bình chứ không phải là quyền lực. Theo một nhà sử học, thời kỳ Khai sáng thế kỷ thứ 18 “tôn vinh hôn nhân bằng cách biến tình yêu thành yếu tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn bạn đời.” (trang 146).

Mặc dù cuộc cách mạng này giải phóng cá nhân khỏi những quy định cứng nhắc, nó cũng để lại một số hệ quả nhất định. Trước kia hiếm ai mong đợi rằng hôn nhân sẽ làm cho mình hạnh phúc, nhưng ngày nay, hạnh phúc đã trở thành một thước đo không thể thiếu được để đánh giá chất lượng hôn nhân. Tuy nhiên, nếu hôn nhân chỉ dựa trên tình yêu thôi thì người ta có thể sẵn sàng chia tay khi mà không còn tình cảm cho nhau nữa. Người ta có thể dễ dàng nản chí hay thất vọng khi bạn đời không làm cho mình hạnh phúc hay thoả mãn các nhu cầu cảm xúc của mình. Chính tình yêu – yếu tố giải thoát cho hôn nhân – lại dẫn hôn nhân vào một cuộc khủng hoảng mới vào cuối thế kỷ thứ 20. Tác giả Coontz kết luận là ngày nay chúng ta đang ở một thời đại mới khi mà các chuẩn mực về hôn nhân không còn rõ ràng nữa và mỗi người phải tìm cho mình một cách tiếp cận hay một cách nhìn riêng về hôn nhân.

Mình mong rằng các bạn có thể học được một vài điều có ích từ bài tóm tắt này. Mình tự hỏi không biết có nghiên cứu nào bàn luận đến lịch sử của hôn nhân ở Việt Nam hay không? Một điểm khác biệt quan trọng là khi quá trình công nghiệp hóa và cá nhân hoá kéo dài đến 3-4 thế kỷ ở châu Âu- châu Mỹ, thì xã hội Việt Nam lại trải qua những thay đổi tương tự chỉ trong vòng có vài thập kỷ. Quan niệm của ông bà mình về hôn nhân khác xa hoàn toàn so với các thế hệ 8x, 9x hay trẻ hơn nữa. Những nhân tố gì đã tạo nên sự biến đổi nhanh chóng này? Nếu bạn có nhận định gì, xin hãy chia sẻ với mình.

Cám ơn các bạn đã đọc bài viết lần này của chuyên mục.

Hẹn các bạn vào tuần tới.

Ngôi Nhà Hạnh Phúc

(*) https://www.brookings.edu/blog/brookings-now/2013/12/20/the-family-relationships-that-couldnt-stop-world-war-i/